Tìm hiểu về loài gấu chó đã tuyệt chủng trong lịch sử

Loài gấu chó, cũng được gọi là Amphicyon, mang những đặc tính của loài gấu (cơ thể to lớn, có bàn chân to với gan bàn chân trần để có thể đứng thẳng bằng hai chân) và loài chó (chân tương đối dài và mõm dài). Tuy nhiên chúng không phải là loài gấu (họ Ursidae), cũng không phải là loài chó (họ Canidae).

Dựa theo khoa học, chúng đặc biệt không phải họ nhà gấu cũng không phải họ nhà chó, nhưng chúng nằm trong nhóm phân bộ dạng chó (Caniformia) hoặc phân bộ “giống chó“. Các loài động vật hiện đại ở phân bộ dạng chó gồm có sói, cáo, chó, gấu, sư tử biển và chồn. Điều này làm cho loài gấu chó có một thứ gì đó giống như người anh em họ hàng trùng tên với chúng. Ngoài ra, loài gấu chó này dễ nhầm lẫn với những giống chó hiện đại, chẳng hạn như loài chó săn gấu Karelian.

Có hai loại gấu chó chính: Một là loài Borocyon robustum có chân dài thích hợp với các hoạt động chạy nhảy và giống với loài chó sói hiện đại, hai là loài Amphicyon longiramus, có thân hình chắc nịch và trông giống loài gấu hiện đại, theo Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Florida cho biết.

Kích thước

Giống loài chó và loài gấu hiện nay, loài gấu chó có kích thước lớn. Chúng có thể chỉ nặng vài cân hoặc có thể có cân nặng lên đến (450kg). Nó được cho rằng những tiến hóa ban đầu của loài gấu chó rất nhỏ, chỉ bằng kích thước của loài chó Chihuahua (một trong những giống chó nuôi nhỏ nhất trên thế giới). Khi tiếp tục phát triển, kích thước của nó dường như lớn dần lên, theo Bảo tàng Field ở Chicago cho biết.

Không phải gấu cũng không phải chó, loài động vật tuyệt chủng này đã tiến hóa trở thành những kẻ săn mồi khổng lồ.
(Nguồn ảnh: Public domain).

Khi tiến hóa thành loài động vật lớn có một vài lợi ích và bất lợi. Trong khi kích thước cơ thể ngày càng trở nên lớn hơn sẽ cho phép chúng săn những con mồi lớn hơn và chuỗi thức ăn cao hơn, chúng cũng cần nhiều thức ăn hơn và tái sản xuất chậm hơn.

Kích thước tiến hóa to lớn của chúng cho thấy rằng chúng có thể săn mồi nhiều loài động vật có vú và động vật khác. May mắn thay, chúng đã tuyệt chủng trước khi con người có mặt trên thế giới“, Wilkins nói.

Môi trường sống

Loài gấu chó lần đầu tiên xuất hiện tại Lục địa Á Âu trong suốt kỷ nguyên Eocen và Oligocen (55,8 triệu đến 23 triệu năm trước), khoảng thời gian đủ để thời tiết trở nên ấm áp và thảm thực vật dày. Nhiệt độ trên toàn thế giới ở khoảng 30 độ C (86 độ F) trong thế Eocene, theo Bảo tàng cổ sinh vật học của trường Đại học California cho biết.

Mặc dù nhiệt độ lạnh lên trong thế Oligocen nhưng nó vẫn khá ấm áp và thảm thực vật phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các địa điểm trên khắp thế giới, bao gồm Bắc Mỹ và châu Phi. Loài gấu chó đã tuyệt chủng 5 triệu đến 10 triệu năm trước.

Chế độ ăn

Răng của loài gấu chó được hình thành để có một chế độ ăn tạp, giống như loài gấu hiệu đại và loài chó hiện đại. Mồi của loài gấu chó nhỏ hơn, có thể là các loài động vật gặm nhấm, trong khi loài gấu chó lớn hơn có thể ăn những loài động vật lớn hơn như loài lợn hoang dã chẳng hạn. Ngoài ra, loài gấu chó có thể rất thích ăn lá cây và quả mọng.

 

Theo Nga Bui (quantrimang)